Vết vỡ là thuật ngữ thường gặp trong ngành khoáng vật học cũng là một trong bốn tính chất cơ học cơ bản của khoáng vật. Vậy vết vỡ là gì? Cùng tìm hiểu qua bài viết này của Eropi.
Những hiểu biết cơ bản về khoáng vật
Khoáng vật là thuật ngữ được dùng trong địa chất để chỉ các hợp chất hóa học rắn, hình thành trong tự nhiên, có thành phần hóa học và cấu trúc tinh thể đặc trưng. Một hợp chất muốn được coi là khoáng vật thì phải thỏa mãn một số điều kiện nhất định như:
- Phải được hình thành trong tự nhiên, không tính các hợp chất được tổng hợp bởi con người.
- Phải là hợp chất rắn, không tính các hợp chất ở thể khí hoặc lỏng.
- Phải có những thành phần hóa học cố định (trừ thủy tinh có thành phần liên tục thay đổi), chứa một tỷ lệ cation hoặc anion nhất định.
- Phải có cấu trúc tinh thể đặc trưng của loại, không tính các vật chất vô định hình.

Đá quý tự nhiên chính là khoáng vật.
Vết vỡ là gì? Có những loại vết vỡ nào?
Vết vỡ là hình dạng và cách sắp xếp của một bề mặt được sinh ra khi một khoáng vật bị vỡ dưới tác động của ngoại lực. Các vết vỡ này thường không tuân theo bất cứ một phương kết tinh nào mà thành những dạng bất thường trên bề mặt khoáng vật. Mỗi khoáng vật sẽ có một vết vỡ đặc trưng riêng mà các nhà nghiên cứu thường dựa vào điều này để xác định danh tính loại khoáng vật.
Tham khảo thêm:
- Thiên thạch là gì?
- Thiên hà lùn chứa toàn vàng, bạc
- Tính chất phát quang của đá quý khi giám định
- Sự tích ngày thần tài
- Mẹ bầu có nên đeo trang sức không?
Có 5 loại vết vỡ cơ bản:
Vết vỡ vỏ sò: Là vết vỡ mà trên mặt có những vòng tròn đồng tâm như vỏ sò. Thường xuất hiện ở các khoáng vật không kết tinh hoặc mịn như đá lửa, đá vỏ chai. Cũng có trường hợp xuất hiện ở khoáng vật kết tinh điển hình nhất là thạch anh.

Vết vỡ vỏ sò thường tìm thấy ở đá lửa.
Vết vỡ dạng sợi: Là vết vỡ có dạng như những mảnh nhỏ, sắc, dài. Thường được tìm thấy ở các khoáng vật có cấu tạo dạng sợi như Amiang trắng, Albet. Thỉnh thoảng cũng xảy ra với cả khoáng vật không phải dạng sợi như Kyanit chẳng hạn.
Vết vỡ dạng sợi xuất hiện ở Amiang trắng.
Vết vỡ răng cưa: Là vết vỡ có dạng sắc, nhọn và lởm chởm như răng cưa. Thường xuất hiện khi khoáng vật bị xé ra, hay tìm thấy ở các đồng tự nhiên và bạc tự nhiên.

Vết vỡ răng cưa phổ biến ở đồng tự nhiên.
Vết vỡ dạng đất: Là vết vỡ mà trên bề mặt có bột mịn như đất sét. Được nhìn thấy ở các khoáng vật tương đối mềm hoặc lỏng như Kaolin, Aluminit, Limonit.

Vết vỡ dạng đất được nhìn thấy ở Limonit.
Vết vỡ xớ: Là vết vỡ nham nhở, lỗ chỗ, không đồng đều.

Vết vỡ xớ thường có ở Magnetit.
Không nhầm lẫn giữa vết vỡ với cát khai
Cũng như vết vỡ, cát khai là một trong những tính chất vật lý cơ bản của khoáng vật. Cát khai là đặc tính riêng biệt chỉ có ở vật chất kết tinh. Được hình thành khi có tác động của ngoại lực lên khoáng vật khiến các tinh thể hay hạt khoáng vật bị tách thành những mặt phẳng rất nhãn tuân theo phương hướng kết tinh nhất định. Những mặt tách như vậy gọi là mặt cát khai. Chúng phân bố trên tinh thể theo quy luật đối xứng và song song.
Cát khai cũng được dùng để các nhà nghiên cứu giám định khoáng vật như vết vỡ. Chính vì những đặc điểm “na ná” nhau mà nhiều người thường nhầm lẫn hai thuật ngữ này. Phải nhấn mạnh rằng, vết vỡ hoàn toàn khác cát khai. Nếu cát khai là sự vỡ ra một cách có phương hướng dọc theo các mặt cấu trúc của tunh thể thì vết vỡ lại là sự vỡ ra không thuân theo quy luật hay phương hướng nhất định nào. Hay có thể hiểu, thuật ngữ vết vỡ mang hàm nghĩa bao quát hơn. Tất cả các khoáng vật đều có vết vỡ nhưng không phải khoáng vật nào cũng có cát khai. Nếu cát khai dễ nhìn thấy thì vết vỡ rất khó để phát hiện. Cát khai cũng chia ra làm nhiều cấp độ khác nhau như: cát khai rất hoàn toàn, cát khai hoàn toàn, cát khai không hoàn toàn, cát khai rất không hoàn toàn, cát khai trung bình.
Một số bí mật thú vị nên biết
Vết vỡ và cát khai chủ yếu được quan sát được trên đá quý thô.
Nếu đá quý có cát khai hoàn toàn thì rất khó để quan sát được vết vỡ.
Hầu hết đá quý đều có vết vỡ ở dạng vỏ sò.






































